CHÂN DUNG MỘT NGƯỜI MỘT ĐỜI BÁN RONG Ở SÀI GÒN

in Mưu sinh đất khách

Ngồi trước mặt tôi là một người phụ nữ gầy nhỏ lưng đã còng xuống nhưng đôi mắt vẫn con tinh anh và nụ cười thân thiện luôn nở trên môi. Nhìn dáng người như thế khó có ai nghĩ bà là người phụ nữ có hàng ngàn lượng vàng trong tay.

Tên thật của bà là Đỗ Thị Lan, sinh ra và lớn lên ở Đà Nẵng nhưng gốc quê ngoại ở Huế lại mấy chục năm bươn trải bán rong các loại bánh đặc sản xứ Huế nên mọi người thường gọi bà là Năm Huế. Dù đã 85 tuổi nhưng bà đi lại nhanh nhẹn và tinh mắt thính tai, tính tiền cho khách rất nhanh và không sai một cắc.

Mồ côi mẹ từ khi lên bảy tuổi, suốt những năm tháng tuổi thơ của bà sông với cha và mẹ kế. Không phải tình máu mủ lại sẵn tư tưởng hẹp hòi nên bà không được mẹ kế cho đi học, có được đôi ba chữ đủ để nhận mặt mệnh giá đồng tiền và tính tiền cho khách là do bà học lỏm được mỗi khi có dịp đi ngang lớp học của thầy đồ gần nhà. Năm lên 10 tuổi bà Lan bắt đầu cuộc sống mưu sinh buôn bán ở chợ đời. Cuộc sông vất vả và buôn bán đã hình thành nên ở bà một phẩm chất chịu thương chịu khó và chắt chiu tằn tiện để có tiền. Tiền với bà như là một phương châm cho mọi hành đông và ứng xử.

Năm 20 tuổi bà lấy chồng, vì chồng bà có mấy người anh theo cách mạng tập kết ra Bắc nên ông phải làm việc cho chế độ cũ để không bị bắt bớ. Năm 1956 bà bồng con theo chồng lên Buôn Ma Thuột vì ông làm việc ở đó. Công việc của bà lại vẫn là buôn bán nuôi con. Năm 1960 gia đình bà lại chuyển về Sài Gòn sinh sống, bà lại mở một tiệm cơm bình dân chủ yếu bán cho binh lính. Cho đến ngày gần giải phóng thì ông bỏ bà đi lấy vợ khác. Cái lý do mà ông thuyết phục và trấn an bà là: “Trước sau gì rồi cách mạng cũng thắng và chế độ cũ sẽ sụp đổ, mình phải lấy một người vợ Bắc để khỏi phải đi tù”. 37 tuổi đời một nách 8 người con nheo nhóc, bà đã phải gồng mình bươn trải nuôi con bằng đủ thứ nghề từ làm thuê làm mướn cho đến buôn bán miễn là kiếm được tiền để nuôi con. Nhiều khi bà phải xin đi rửa chén bát tiền công rẻ mạt để học nghề làm các loại bánh từ bánh khảo cho đến bánh bò rồi đến bánh nậm, bánh bột lọc, cuốn thịt, nem chua, tré… Những loại bánh đặc trưng của xứ Huế.

Khi đã học được nghề bà làm một gánh hàng rong đi bán, không có vốn bà phải xin được người ta bỏ mối bánh và lấy tiền sau. Rồi bà tự lực làm lấy bánh để bán, cứ 9h sáng hàng ngày bà gánh bánh đi bán đến 1h đêm mới về ngả lưng vài tiếng, 4h sáng bà lại dậy xay bột làm bánh và 9h lại gánh đi bán, cứ tuần tự ngày này qua ngày khác như thế.

Hơn 40 năm làm nghề bán bánh rong, có nhiều khi buôn bán bà bị trật tự chính quyền xua đuổi thậm chí là bắt ký cam kết không được bán hàng rong ở khu vực trung tâm thành phố. Bắt bà thì cứ bắt nhưng bảo ký cam kết thì bà không ký, bà bảo: “Tôi ký hay không ký thì cũng thế thôi nay tôi ký mai tôi lại bán, gánh hàng của tôi nuôi 8 người con, không cho tôi bán thì các con tôi chết đói à”. Thế rồi bà vẫn đi bán, mãi rồi người ta cũng hiểu và thông cảm và miễn thuế cho bà bởi bà bán rong nhưng rất có ý thức và trật tự lại biết giữ gìn vệ sinh.

Gánh hàng rong của bà không chỉ là quen biết mà còn được rất nhiều người ưa thích và tìm đến bởi bánh của bà làm rất cẩn thận và ngon. Bà bảo rằng: “đắt mấy người ta cũng tới ăn, miễn là ngon. Bánh và nem phải là loại gạo ngon, thịt với tôm phải tươi, làm phải sạch sẽ cẩn thận đảm bảo vệ sinh và an toàn. Chỉ cần mình làm ẩu một lần người ta ăn không ngon là sẽ mất uy tín và tiếng tăm, một chiếc bánh mình ăn lãi ít nhưng bán được nhiều chiếc lại giữ được khách thế là mình đã lãi nhiều” Bà tuyệt đối không bao giờ dùng loại bột chua hay hàn the và những loại thịt, tôm ôi thiu để làm bánh.

Phương châm và tôn chỉ của bà là kiếm tiền, bà nói bà rất thích tiền nhưng chỉ kiếm tiền bằng công sức chính đáng của mình chứ tuyệt đối không làm điều xấu. Đặc biệt bà rất vui vẻ nhưng nhẫn nhịn trong việc kiếm tiền. Khách hàng dù có khó tính, cự nự hay nặng lời nhưng không bao giờ bà to tiếng và nặng lời lại với khách. Bà bảo rằng: “Họ nói gì kệ họ, họ chê thì mình tiếp thu nhưng quan trọng là mình nhẫn để lượm tiền đi mua vàng”. Tất cả những người mua hàng của bà dù khi con gồng gánh hay cả khi đã có tiệm riêng thì bà vẫn luôn niềm nở và ngọt ngào dạ vâng, thưa cô thưa cậu chứ tuyệt đối không nói xẵng với ai.

Mấy chục năm bươn trải mưu sinh và nuôi dạy con cái đã rèn cho bà bản chất chịu thương chịu khó và tằn tiện chắt chiu, cứ nhìn vào cái cách bà thu tiền của khách rồi cẩn thận phân loại sắp sếp từng tờ mệnh giá khác nhau rồi cho vào túi ni lông cuộn cẩn thân là đủ biết bà trân quý đồng tiền đến mức nào. Từ khi còn làm thuê làm mướn cho đến khi tự mình buôn bán dù không biết chữ nhưng bà tính tiền bằng cách nhẩm rất nhanh và không bao giờ nhầm lẫn. Cái cách bà chắt chiu cũng rất căn cơ, bà nói: bà thích tiền lắm, cứ được chín đồng thì phải cố cho được mười đồng để tối đến tiệm mua vàng cất đi.

Chi tiêu trong gia đình bà cũng rất tằn tiện và tính toán để sao cho con cái vừa có ăn lại vừa học được cách tiết kiệm và quý trọng đồng tiền. Đối với các con bà rất quan tâm chuyện học hành, theo bà mình học được làm được thì người ta phục vụ mình mà không học được thì mình phục vụ người ta.

Chỉ với gánh hàng rong trên đôi vai gầy guộc vậy mà bà đã nuôi được 8 người con khôn lớn và học hành thành đạt. Hiện tại có 6 người con của bà đang sinh sống và làm việc ở các nước Mỹ. Đức. Canada, còn hai người con ở lại với bà cũng là bác sỹ làm việc ở một bệnh viện lớn của thành phố. Nói về chuyện cho con đi học và sinh sống ở nước ngoài bà bảo: “Người ta đóng tầu cho con đi nước ngoài, bà đây không đóng tầu nhưng cũng chẳng khác đóng tầu cho con đi”.

Chỉ với gánh hàng rong và đức tính chắt chiu tằn tiện mà bà đã mua được bốn căn nhà ở Sài Gòn, mỗi căn nhà có giá khoảng 500 lượng vàng. Vừa qua bà đã bán đi một căn 500 lượng để cho hai người con qua Canada học và sinh sống. Tuổi đã cao không còn đủ sức gánh hàng đi bán bà đã dùng một căn nhà trên một đường phố chính ở trung tâm thành phố để làm cửa hàng và vẫn chỉ bán những loại bánh như bao nhiêu năm bà vẫn bán. Làm ra tiền nhưng bà chỉ dành dụm để mua vàng cất và mua nhà chứ không cho các con tiêu xài hoang phí và để rồi chúng sinh ra lười nhác.

Nói về chồng bà nói bà không hận ông mà chỉ giận thôi, dù giận thì giận vậy nhưng khi cuối đời sức khỏe yếu ông trở lại sống với bà, bà vẫn chăm sóc ông chu đáo và khuyên nhủ các con “không được giận bố vì có bố với có các con”. Được ba năm thì ông mất.

Ngồi tâm sự với bà gần hết buổi sáng, dù vừa trò chuyện vừa bán hàng cho khách nhưng bà luôn tỏ thái độ chân tình và cởi mở. Biết tôi là nhà báo bà bảo: “ Cậu viết thì cứ viết thôi nhưng có sao thì nói vậy bà già rồi chả còn sống được bao nhiêu bà chẳng cần tô vẽ đâu”. Khi được hỏi sao nhiều tuổi rồi, kinh tế khá giả con cái trưởng thành rồi bà không nghỉ ngơi an dưỡng tuổi già? Bà vỗ lưng tôi mà rằng: “ Cậu hiểu cho, bà không làm là không chịu được, ngồi không buồn và ngứa ngáy chân tay lắm, bà sẽ làm đến khi nào không làm được nữa thì thôi”.

Thật khó có thể dung một người phụ nữ gầy gò nhỏ nhắn mà nghị lực lại phi thường đến vậy. Một cuộc đời gian truân vất vả từ tấm bé cho đến lúc tuổi già mà vẫn tảo tần vui vẻ yêu đời yêu cuộc sống đến vậy. Phải chăng lao động chính là sự rèn giũa và làm nên bản chất tốt đẹp của con người.

Trịnh Đình Nghi

Trả lời

Your email address will not be published.

*