trang thông tin điện tử của những người việt xa quê

Category archive

Tác phẩm - page 2

MƠ VỀ LÀNG TÔI

in Thơ

Tôi đi về phía cổng làng
Thấy lão Hạc khóc con Vàng thảm đau
Tôi đi về phía vườn sau
Thấy mụ Thị Nở lót tàu chuối khô
Chí Phèo bê cháo một tô
Tiếng ông Bá Kiến nhất hô lệ làng
Tôi đi về phía gốc bàng
Thấy thầy giáo Thứ khẽ khàng hỏi thăm
Xa quê nhẽ đã mấy năm
Quần manh áo vải đêm nằm nỉ non
Tôi đi về phía phấn son
Thấy con Thị Hến mắt còn đong đưa
Thầy Đề rón rén giữa trưa
Huyện quan cuống quýt chui bừa chõng tre
Tôi đi về phía đêm hè
Thấy Sò, Nghêu, Ốc le ve trộm mùa
Tôi đi về phía sân chùa
Thấy Thị Mầu liếc bỏ bùa Tiểu nhi
Cổng chùa chả mở mấy khi
Thấy chàng Điệp khóc nằn nì sãi Lan
Tôi đi về phía Ao làng
Thấy Bờm mặc cả ngang hàng Phú Ông
Tôi đi ra phía bờ sông
Thấy nàng Kiều thắm môi hồng đa đoan
Tôi đi qua giếng giữa làng
Tiếng cô Tâm nhỏ, Bống ngoan ơi ời…
Tôi đi qua chiếc sân phơi
Thấy tay Tự Lãng coi trời bằng vung
Tôi đi… trống thuế thùng thùng!
Thấy chị Dậu khóc bần cùng bán con
Nỗi oan Thị Kính đang còn…

Giật mình! Mẹ Đốp
mắng con :” Mơ à?”

Tuan Anh Nguyen (TAN)

ĐẦU ĐÔNG


in Thơ


Đông về năm ấy chút tàn thu
Chiếc lá rơi trên đường sương tuyết trắng
Chỉ có ta một góc trời tĩnh lặng
Nỗi nhớ về em… ta lấp mãi không đầy.

Còn lạnh nào hơn lạnh của giá băng?
Còn lạnh nào cô đơn về trên lối
Ôi! Cái tôi của một thời nông nổi
Cứ theo ta khi mỗi độ đông về…

Tuổi trẻ nhiệt cuồng với những đam mê
Với suy nghĩ: không có gì không thể
Chỉ vài lời…khi hẹn nhau đến trễ
Em bội lời thề…mà… đổ bể mất nhau…

An ủi lòng…Thôi! Hẹn đến kiếp sau
Để nỗi đau không còn theo nhau nữa
Trong trái tim… Em vẫn là một nửa
Chẳng nguôi ngoai cho đến tận bây giờ…

Nguyễn Văn Hải

HAY LÀ THẾ…

in Người Việt ở nước ngoài/Thơ

Hay là thế, mai tìm về với mẹ
Bỏ giấc trưa, chơi châu chấu ngoài đồng
Ăn lại bữa cơm canh, cà muối xổi
Thú tội rằng: con thất hứa nhiều năm!

Con về nhé, kể mẹ chuyện xa xăm
Của phố xá, và lòng người trăm bận
Của dấu chân đi trên nền chiều muộn
Nơi cành khô mọc suốt lối tâm hồn

Con không còn muốn tính chuyện thiệt hơn
Giờ ra biển thấy lòng trào bọt sóng
Biển của nghìn năm bão bùng, cô độc
Đâu điểm dừng chân cho phía cuối khoảng trời?

Có quá nhiều những câu chuyện đôi mươi
Của tuổi trẻ chìm màu đời bụi cát
Trong đó con – đứa từ nhà đi lạc
Đứng giữa đông, xem vạt gió giao mùa

Hay là thế, con về độ ban trưa
Gác vết giày trước hiên nhà của mẹ
Xin thêm lần cho con làm đứa trẻ
Đứa trẻ hư, học mãi cách nghe lời…

Huyền Thư

CHỊ ƠI

in Thơ

Về đi đừng ngại sông sâu
Sông sâu nay đã có cầu chị ơi

Bây giờ đạo cũng như đời
Không còn cổ hủ như thời chị yêu

Chị ơi mỗi bữa cơm chiều
Mẹ ngồi nhớ chị khóc nhiều hơn ăn

Đông thèm hơi ấm áo khăn
Thu còn dư chút muộn mằn heo may

Đêm qua vừa tỉnh cơn say
Bỏ nhà anh Sáu thọt tay đi rồi

Vắng xa dần tiếng đàn môi
Nhìn sang ngõ cũ mẹ tôi thở dài.

Trần Xuân Trường

Ở GIỮA HỒN QUÊ

in Thơ

Hôm nay tôi đi dọc miền Gia Viễn – Ninh Bình. Nhìn những làng quê, những lũy tre, hàng cau.. in bóng xuống đồng chiều mênh mang nước. Bất giác thấy một vùng quê như còn rất quê xưa… Đó chính là quê của Cụ Chánh làng ta.

Quê như thế, làng như thế bảo sao mỗi khi xa quê không đau đáu nỗi niềm, hỏi ai đi xa mà không nao lòng thương nhớ. Hình ảnh quê làng ấy còn lung linh còn lãng mạn còn lay động tâm hồn ta biết bao nhiêu khi ta nhớ về những kỷ niệm gắn bó với hình ảnh bờ tre, giếng nước, hàng cau, dòng sông bến nước và cánh đồng mênh mang hương lúa, chấp chới cánh cò…

Chỉ có tình yêu quê hương lắm lắm mới có thể khắc họa những hình ảnh quê hương, những kỷ niệm ngọt ngào để khi đọc lên ta dâng trào cảm xúc và da diết yêu quê.

Xin trân trọng giới thiệu bài thơ mới toanh của Cụ Chánh. Một thi phẩm trữ tình làm lay động tâm hồn và chạm đến nỗi niềm của những người con xa quê.

Trịnh Đình Nghi

***

Ai về tắm giếng làng đêm trăng sáng
Dệt trăng vàng khoác áo lên vai
Dòng nước mát quê nhà gột rửa
Bao nhiêu năm cát bụi đường dài.

Ai về tắm dưới hàng cau hiên trước
Ngọt lịm môi chum nước của bà
Cau ra trái rồi mo cau lại rụng
Lá trầu vàng nhớ tay hái mùa xa.

Ai về tắm bến sông ngày xưa cũ
Khoả đôi tay ôm mây trắng vào lòng
Nhớ nón lá em chân trần gánh nước
Biết bây giờ sang bến đục hay trong?

Ai về tắm cơn mưa rào mùa hạ
Chị run run áo mỏng trên đồng
Có người định cau trầu dạo ấy
Mãi chưa về, nghiêng ngả ngọn trầu không.

Ai về tắm dưới đồng chiều nước nổi
Con nước lên, nước lại giật lùi
Chị ngồi ngóng thuyền nan xuôi ngược
Đồng chiều giờ nước cạn,
Cũng đành thôi.

Ai về tắm trong lời ru một thuở
Gió quê nhà ru lại mảnh hồn quê
Mắt đau đáu dõi theo bàn chân mỏi
Chở che cho muôn nẻo đường về.

Bùi Chánh

CÁI TỦ THỜ

in Truyện

Sau một đêm thức trắng, Ông Hai tắm rửa sạch sẽ, rồi mặc áo dài khăn đóng, thượng đăng bái đường . Hai ngọn đèn cầy trên tủ thờ mỗi lúc một sáng tỏ . Ông cầm ba cây nhang nghi ngút, xá ba xá, quì xuống trước bàn thờ .
Rưng rưng hai dòng lệ, ông khấn vái: “Cúi kính dưng hương trước cửu huyền thất tổ, ông bà, cha mẹ, Con luôn nghe lời dạy bảo của ông bà cha mẹ chí cốt làm ăn, không một ngày chểnh mảng , nhưng thời cuộc đã đẩy gia đình con vào bước đường cùng . Con không còn gì để bán, lấy tiền mua gạo ngoài cái tủ thờ . Con bất hiếu kính xin cửu huyền thất tổ, ông bà, cha mẹ cho con bán cái tủ thờ này, để nuôi sống gia đình con trong cơn hoạn nạn. …”.
Ông đứng dậy lạy bốn lạy. Đến lạy cuối cùng, ông không đứng dậy nổi. Dập đầu xuống sàn nhà, khóc tức tưởi như đứa trẻ bị đòn oan.
Không phải đến năm nay, ông năm mươi tuổi, bà con trong làng mới gọi ông là Ông Già Hai, mà trước mươi, mười lăm năm, nhiều người đã gọi ông như vậy. Bởi gì ông giống như một ông già, ông không mặc đồ tây. Ông mặt bà ba đen khi đi làm và mặc bộ bà ba trắng khi đi chơi, đi đám. Ông luôn cởi mở, thân thiện với mọi người, nhưng không một lời nói chơi, nói giỡn. Mọi thứ với ông đều chỉnh chu, nghiêm túc .
Có người còn gọi ông là Ông Già Hai Nguyển Thị để phân biệt với các ông Già Hai khác ở trong làng. Không phải vì ông Hai có nước da trắng như da con gái và trên đầu luôn là vành nón lá mỗi khi ra nắng, mà vì Ông Già Hai không biết hút thuốc, không biết uống rượu,…
Ở cái xứ Măc Dưng này, ai cũng biết Ông quá cơ cực lúc hai mươi và khá giả , an nhàn ở tuổi bốn mươi.
Cha ông mất lúc ông chưa tròn mười bảy tuổi. Ruộng lúa bị bọn cướp ngày lấy. Đàn bò bị bọn cướp đêm đuổi đi. Mẹ con ông lâm vào cảnh nghèo đói. Năm ông 18 tuổi, ông theo bà con vào kinh đào Ba thê, khai hoang, khẩn ruộng, đầu tắt mặt tối, năm này sang năm khác .
Đến đầu những năm bảy mươi gia đình ông thuộc dạng ruộng trăm lúa ngàn . Dựa lúa của ông hơn ngàn gịạ, luôn được trữ lại đến mùa giáp hạt, sau khi cho bà con mượn một ít, rồi mới bán.
Trước đây Ông Hai nổi tiếng với tài ngâm Lục Vân Tiên, ngâm Kiều dù không biết viết và ông sở hữu cái tủ thờ chỉ có ở nhà các Ông Chủ, Ông Cả,…Mấy năm nay ông lại nổi tiếng vì vụ bị chính quyền sục bồ, thu mua mấy trăm giạ lúa và ông không còn ” cục đất chọi chim”.
Một ngày đêm hãi hùng, tan thương của xóm ông vào cuối năm 1977 . Bà Bí thư xã, cùng với cán bộ xã, ấp đem súng ống và những cây sắt dài, nhọn hoắt, đi lục lội, xét nhà, xom vào các đống rơm,… tìm lúa y như mấy thằng ngụỵ ác ôn lùng sục hầm bí mật ở trại ruộng ông trước ngày giải phóng. Oái oăm thay, một trong những người cầm những cây sắt nhọn hoắc đó là anh bạn được ông chứa trong hầm bí mật ngày nào. Họ đã cưỡng chế thu mua mấy trăm giạ lúa của nhà ông với giá rẻ mạt, chỉ để lại mấy chục giạ cho gia đình ông ăn vài tháng . Ông kêu trời không thành tiếng.
Năm sau ruộng ngàn nhứt của ông ở kinh Ba Thê chính quyền lấy cấp cho những người định cư tại địa phương . Ruộng ngàn nhì vào nông trường . Còn ruộng ở Mặc Dưng thì vào tập đoàn.
Ông thật sự trắng tay. Cơn bệnh viêm phế quản mãn tính có từ thời đi khai hoang cũng thừa cơ bộc phát, hành hạ ông .
Ngày người ta đem cái tủ thờ thường đến và đổi cái tủ thờ cẩn ốc xà cừ bảy màu của ông đi, ông cố tình lánh mặt . Ông ra mộ cha, ngồi thừ người, nhớ lại lời của cha Ông khi mua cái tủ cẩn ấy.
Năm đó Ông mười lăm tuổi, Cha Ông tránh sạt lở dọc bờ sông Hậu, nên di dời nhà cửa từ làng Mỹ Hội sang Mặc Dưng. Đang dọn nhà thì ghe thương hồ ghé lại, Trong ghe thương hồ có cái tủ cẩn rất đẹp. Cha ông quyết định vay bạc lúa mua cái tủ thờ đó. Ông thắc mắc . Cha ông giải thích:
– Cái tủ đó rất giống cái tủ nhà Ông Chủ Thanh bên Đồng Sút. Những năm ở đợ cho Ông Chủ Thanh . Cha đã chăm sóc cái tủ nhà Ông Chủ chủ kỹ lắm , bởi gì cái tủ thờ nhà Ông Chủ trước đây là của ông bà nội con . Ông Cậu con đã bán nhà, bán đất của ông bà nội con cho Ông Chủ , sau khi ông bà nội con qua đời đột ngột, lúc đó Cha mới chín tuổi , Chú Ba con mới bảy tuổi . Ông Cậu con đưa Cha và Chú Ba về trại ruộng ở Ba Dầu, làm ruộng , giữ bò cho Ông Cậu con . Năm Cha bằng tuổi con bây giờ, cha nghe loáng thoáng về cha mẹ và quê quán của mình. Năm đó cha dọn mâm cơm cúng giỗ bà nội con đặt trệt dưới đất, đốt mấy cây nhang cũng cấm dưới đất. Tự dưng nước mắt chảy dài tủi hổ cho phận làm con ,.., Mấy tháng sau, cha tìm về Đồng Súc xin gặp Ông Chủ Thanh . Cha xin làm mướn không công hai năm cho nhà Ông , Ông Chủ sẽ cho cha một cái nhà bằng tre, để hai anh em ở và một cái bàn để thờ ông bà nội con . Cha đã làm cho nhà Ông Chủ đến ngày cưới mẹ con. Chính Ông Chủ đứng ra làm chủ hôn và cho cha mẹ một ít tiền ra riêng tự sinh sống. Ông Chủ nói thương Cha vì Cha có lòng hiếu thảo với cha mẹ với người lớn .,..Cha rất muốn có lại cái tủ thờ của cha mẹ nhưng làm sao được, có được cái tủ này là phước rồi !…..
Vậy mà hôm nay Ông lại phải bán cái tủ thờ đó đi. Ông tự sỉ vả mình. “Đúng là đồ bất hiếu”.
Ai đó nói: “Cảnh khổ nào cũng có cũng có thể vượt qua miễn còn có cơm ăn.” Câu này đúng với nhiều gia đình như gia đình Ông Hai.
Mấy năm sau, Tập Đoàn tan rả, Nông trường giải thể. Chính phủ có chính sách mới về nông nghiệp và phát triển nông thôn. Mấy tỉnh miền Tây rầm rộ phong trào thương lượng về quyền sử dụng đất giữa người chủ cũ và chủ mới . Không còn khái niệm xâm canh hay trực canh . Ông được nhận lại phân nửa số ruộng.
Vợ chồng Chú Út , cùng ông canh tác lúa hai vụ phần ruộng được nhận lại . Không lâu kinh tế gia đình phục hồi . Trong lúc khó khăn những người con lớn của ông phải trôi dạt ra miền ngoài kiếm sống, có người ngược dòng lên tận Nam Vang. Ai cũng chăm chỉ vượt khó, sau mười mấy năm, tất cả đều khá giả.
Năm Ông Hai được bảy mươi, sau bữa cơm đại gia đình mùng hai tết, các con ông họp mặt đông đủ bàn việc làm lại nhà. Ông chú ý xem bản vẽ và phối cảnh ngôi nhà, nghe Chú Hai con trai lớn của ông trình bày và mọi người đóng góp ý kiến … Một hồi lâu , ông nói:
– Các con có tiền làm nhà đẹp nhà lớn cho ba, sau này có chỗ thờ phượng ông bà tổ tiên tôn nghiêm ba mừng lắm. Có điều này, ba ray rức mấy chục năm nay. Lúc mất ruộng , ba đã đổi bán cái tủ thờ của ông nội con để lại . Cái nhà các con làm nhỏ lại hay bỏ bớt các phần không cần thiết , nhín ra một số tiền, mấy năm nay ba có dành dụm một ít , các con lấy tiền đó đi đặt người ta làm cái tủ thờ cẩn ốc xà cừ giống như cái tủ thờ nhà mình hồi đó . Các con qua bên Đồng Súc chụp hình tủ thờ nhà cháu Ông Chủ Thanh làm kiểu.”
Ông chưa dứt lời Chú Hai đã vẩy nẩy:
– Ba cứ cố chấp hoài. Chuyện đã qua thì cho qua đi ! Ba đâu có sai gì mà áy náy . Ngày xưa túng quá thì bán , Bây giờ nhà mới tân thời thì nội thất , bàn thờ , tủ thờ phải tân thời coi mới được chớ . Tiền con cháu cho thì cứ xài, thích ăn gì thì mua ăn , dành dụm làm gì ? Chuyện thờ phượng cúng kiến là chuyện của tụi con ba không phải lo, mà lo có được đâu ? Cổ hủ, cố chấp quá con cháu chịu sao nổi.
Mọi người ngơ ngác, tỏ vẻ bất bình với Chú Hai, nhưng không dám ý kiến . Ông Hai lấy khăn lau nước mắt, đứng dậy lủi thủi đi ra ngoài . Tiếng võng đưa kẻo kẹt rích lên nghe não cả ruột.
Ông Hai tỉnh lại , sau cơn mê sảng ,vật vã . Người đang ôm chặt lấy ông không phải là Chú Út như mọi khi mà là Thằng Huế , Mỗi hôi nhuể nhoãi, nước mắt dàn dụa , nó gọi thất thanh “ Ông Nội, Ông Nội…”
Thằng Huế có cái tên khai sinh đẹp như tên ông vậy , nhưng từ bé Ông gọi nó là thằng Huế, vì nó nói giọng người miền ngoài trại trại , khó nghe . Trước nay ông không thích và tin cậy thằng cháu đích tôn này. Nó không lễ phép gì cả . Hồi nhỏ mỗi lần nó về nhà nó không khoanh tay “Thưa Ông Nội con mới về “, mà cứ “ Cháu chào Ông “ rồi câu vai, bá cổ . Bảo nó vào xá bàn thờ như ba má nó, nó lại : “ Không , Không “. Lớn lên nó cứ bàn giữa gân cổ tranh luận với ông, trong khi cha chú nó luôn khép nép .
– Ở đây là đâu vậy ?
– Dạ. Ở đây là bênh viện . Ông Nội mơ thấy gì mà la dữ thế?.
– Nói cho tui bây biết để làm gì !
– Con biết ông nội mơ thấy gì mà ! Ông Nội an tâm dưỡng bệnh đi , con nói với ba con đi đặt cái tủ thờ cẩn ốc xà cừ cho ông nội .
– Ba mày tánh ngang như cái giàn bầu biết nghe lời ai đâu mà nói.
– Ba con không chịu, thì con đi làm, rồi gọi các cô mấy chú hỗ trợ! Ông Nội cứ an tâm!
Nghe Thằng Huế nói thế, Ông cảm thấy ấm lòng . Nhưng nhớ lại lời của ba nó hôm tết, ông lại thở dài.
Con cháu chạy ra đón ông khi chiếc Ford bảy chỗ dừng lại trong sân. Ông không còn tin vào tai, vào mắt mình. Ngôi nhà mới của ông không phải là ngôi nhà ngói xanh mái Thái như trong bản vẽ hôm tết, mà nó y chang như ngôi nhà cũ, nhưng cao ráo hơn, màu sơn đẹp hơn. Sàn gỗ, vách gỗ được thay bằng gạch men và đá granic bóng loáng.
Ông vịn vai Thằng Huế vào nhà . Ông hoa mắt, rồi không còn sức nhấc chân lên được, khi thấy phía dưới bộ lư óng ánh, rực đỏ hai ngọn đèn cầy là cái tủ thờ cẩn ốc xà cừ bảy màu năm xưa….
Ông đang đu đưa mấy câu Lục Vân Tiên trên võng :’’ Trai thời trung hiếu làm đầu . Gái thời tiết hạnh là câu trau mình ..”, thì có điện thoại từ TOKYO , Thằng Huế bảo, nó đã lấy bằng được Tiến Sĩ , ngày mai bay về Sài Gòn, ngày mốt nó và ba má nó cùng về thăm ông và làm lễ tạ ơn ông bà tổ tiên.
Rạng sáng hôm sau, Chú Út thấy Ông Hai trong bộ lễ phục, áo dài, khăn đóng nằm bất động trên giường, tim ngừng đập. Mặt còn hồng hào, môi như nở nụ cười . Trên tủ thờ khói nhang còn phảng phất, đỏ rực hai ngọn hồng lạp.
Phạm Quang Tân – Vu Lan 2017

1 2 3 4 7
0 0
Go to Top