trang thông tin điện tử của những người việt xa quê

Category archive

Tác phẩm - page 3

TRỜI MƯA BONG BÓNG PHẬP PHỒNG

in Tản văn

Cha cái Hằng mất sau một tai nạn lao động khi nó mới tròn một tuổi. Tám năm sau mẹ nó đi bước nữa với người đàn ông góa vợ ở tỉnh xa.

Nó nhớ như in một buổi trưa mùa xuân sau Tết nguyên đán. Con đường từ trường về làng mưa dầm xuân nhầy nhượt ướt. Một mình nó lướt mướt rửa chân ở ao làng thì nghe tiếng hai bác gái cùng xóm đang giũ bèo bên cạnh đó thì thào, nói mẹ nó sắp đi lấy chồng lần nữa.

Cái câu ” trời mưa bong bóng phập phồng, mẹ đi lấy chồng con ở với ai” như xoáy sâu vào da thịt nó, nó tấm tức khóc chạy về nhà. Nó khụy xuống giữa sân vừa túm chặt lấy hai chân mẹ nó vừa gào khóc; ”Mẹ ơi mẹ đừng lấy chồng, mẹ ở nhà với con, con không cho mẹ lấy chồng đâu..”

Hơn mười tuổi đầu nhưng cái Hằng già đanh, đen nhẻm và ít nói. Nó ở với bà ngoại và dì chú dượng. Sáng đi học, chiều về bế em, chăn lợn chăn gà giúp chú dì.

Hồi mẹ nó mới lấy chồng, ban ngày thì chớ, cứ chạng vạng tối tầm gà lên chuồng là cái Hằng nhớ mẹ nó vô cùng. Có hôm đang đun dở nồi cơm nó cũng kệ chạy tuốt ra cây đa đầu làng ngóng mẹ, nó vừa chạy vừa nghĩ có thể, có thể mẹ nó vì nhớ thương nó mà bỏ chồng để trở về… Cũng có đêm nó ngủ mơ thấy mẹ về ôm chầm lấy nó, nó úp mặt vào đầu vào cổ mẹ nó hít hà mùi tóc hương bồ kết với hương nhu…Nó mơ rồi choàng tỉnh, nức nở một mình, mắm môi mắm lợi nắm chặt bàn tay cho khỏi khóc thành tiếng. Nuốt cơn tấm tức, càng nuốt, càng nhịn cơn nhớ ở đâu như dội vào lòng nó, nó thấy bụng cứ quặn đau.

Năm con Hằng học lớp 6, có thằng bạn học cùng xóm lúc đi học về vừa cầm cành cây bẻ bên đường quất quất vào mũ nó vừa hát: Trời mưa bong bóng phập phồng..thằng bé mới hát được đến đấy thì lũ bạn đã cười phá lên và nói mẹ đi lấy chồng, mẹ đi lấy chồng.
Con Hằng không nói không rằng quay phắt lại, nó vứt cặp bỏ mũ cong người lao thẳng vào thằng bé đầu têu. Thằng bé bị đau và bất ngờ ngã sõng soài ra đất. Con Hằng vừa đấm vừa cắn vừa cào cấu thằng bé, lũ bạn đi cùng thấy mắt con Hằng vằn đỏ, mặt tím lại thì sợ hãi quá dạt ra hết mà chẳng đứa nào dám ho he một tiếng.
Mặc cho thằng bé tay chân xước xát mắt dím máu lăn quay ra đất khóc tu tu. Con Hằng vơ mũ cặp chạy thẳng một mạch về làng. Chạy được dăm chục mét nó bắt đầu nức nở, trong lòng nó chỉ muốn gào lên bố ơi, mẹ ơi nhưng miệng nó chỉ hức hức chứ tuyệt nhiên không kêu một tiếng nào.

Mười bốn tuổi con Hằng một mình đã dám theo vịt chạy đàn rong ruổi khắp các cánh đồng xa gần. Suốt mùa hè chẳng mấy khi nó được ở nhà. Việc nặng nhẹ dồn cả lên đôi vai gầy còm của con Hằng.

Mẹ nó lấy chồng cũng đã được sáu năm. Sáu năm nó lầm lụi, lam lũ cùng bà ngoại, vợ chồng dì chứ với lũ em. Nó chưa từng một lần mở miệng gọi hay hỏi han về mẹ nó.

Năm học lớp chín con Hằng đoạt giải nhất cuộc thi văn cấp tỉnh. Nó được tuyển thẳng vào lớp mười THPT. Khi nghe cô chủ nhiệm thông báo kết quả kì thi. Người đầu tiên nó muốn khoe thành tích học tập là mẹ của nó. Nó vẫn nhớ như in đôi mắt mẹ nó nhòe nhoẹt nước mắt, lúc mẹ nó mặc áo cô dâu đứng trước cửa buồng mà nó ngồi khóa ngược bên trong. Nó nhớ sau đó nó luồn qua cửa sổ chui bờ rào chạy tót ra mé cổng làng, vừa khóc vừa leo một mạch lên chạc ba của cây đa cổ thụ, nó ngồi thu lu ở đấy vừa khóc vừa chờ xe rước dâu của mẹ nó đi qua.

Nó cũng vẫn nhớ có những lần vào ngày mùng một Tết, từ mờ sáng nó đã sang nhà dì mở cửa chuồng lùa đàn bò lên núi, nó cứ ở rịt trên núi đến đêm tối sẫm, mặc cho rét cắt da, mặc cho đói rã rời chứ nhất định nó không về, vì nó biết hôm ấy mẹ nó sẽ về nhà cùng với chồng mẹ nó. Tiếng mẹ, tiếng bà ngoại, tiếng dì nó gọi thiết tha không át nổi cái ấm ức nghĩ rằng mẹ nó đi lấy chồng vì không yêu thương nó nữa.

Nó cũng còn nhớ mùa hè năm ngoái, nó theo đàn vịt chạy đồng mãi tận làng bên. Gần trưa nó định khoanh vịt lại rồi ngả lưng một lát, bỗng nó nhận ra dáng mẹ nó sấp ngửa đạp xe ngược chiều gió trên bờ đê chắc ra tìm nó. Nó lập tức ngoảnh mặt, lùa đàn vịt ngược trở lại lối vừa về, mặc mẹ nó vừa khóc vừa ngã lên ngã xuống chạy gọi với theo trên những đìa ruộng nước ngập ngang người.

Ngày con Hằng ra Hà nội thi đại học chẳng có ai dẫn nó đi. Một mình khăn gói tự hỏi thăm lên thủ đô. Nó may mắn được một chị sinh viên tình nguyện chở ngay về ăn ở tại ngôi chùa mà các sư sãi năm nao cũng nấu cơm từ thiện cho các sĩ tử đi thi. Ngay khi vào cổng tam quan nó nhận ra ngay một sư bác người quen cùng làng là bạn học với dì của nó. Mấy ngày ở trên Hà nội đêm nó được ngủ cùng sư bác, sau buổi thi cuối cùng sư bác giữ con Hằng ở lại một thêm một đêm, sáng hôm sau sư bác mới đưa nó ra bến xe để nó về quê. Không biết đêm cuối cùng sư bác nói những gì với con Hằng mà sau mười năm mẹ nó lấy chồng lần đầu tiên nó hỏi dì, hỏi bà về nơi mẹ nó đang ở. Nó lặng lẽ và cẩn thận ghi lại địa chỉ vào quyển sổ tay của nó. Nó đập con lợn đất tiết kiệm đã nuôi được mấy năm nay. Nó chỉ còn chờ kết quả thi đại học.

Bà dì con Hằng hớn hở cầm tờ giấy báo trúng tuyển đại học chạy sang nhà ngoại nó. Ngoại từ trong bếp đi ra tay đỡ tấm giấy mắt rơm rớm bảo rằng sáng sớm nay con Hằng đã xin phép lên thị xã bắt xe vào Nam định.

Buổi gần trưa cuối hè ở một xóm chài ven biển của tỉnh Nam định. Một phụ nữ vừa nấu cơm vừa tranh thủ vá lại tấm lưới thủng thì thằng bé con chị chạy vào bập bẹ: Mẹ ơi, trong sân nhà mình có chị nào đang đi tìm mẹ, người phụ nữ tất tả bước ra.
Mẹ…Mẹ ơi. Tiếng con Hằng vỡ òa nức nở. Mười năm!

Loan Ngẫn

VIẾT CHO MÙA VU LAN

in Gia đình/Tản văn

Bố tôi vô cùng tức giận, mặt đỏ bừng vớ ngay thanh tre đực bà vẫn dựng ở góc hè nện cho anh tôi một trận tơi bời vì tội buổi trưa không chịu ngủ mà trốn nhà lấy nhựa mít dính chuồn chuồn!

Bố vốn dữ đòn và rất nghiêm khắc, lần này anh có chạy đằng trời cũng không thoát được cơn lôi đình chỉ còn cách úp mặt vào tường chịu trận mà thôi.

Bà tôi một mình chăm sóc và dạy dỗ một lũ cháu, bố mẹ tôi đi làm (công tác) thứ bảy mới về . Bình thường chị em mải chơi có thế để nhà của bừa bộn, nhưng riêng chiều thứ 7 thì phải tuyệt đối gọn gàng, sạch bong từ trong ra ngoài không một hạt bụi. Bố tôi mà thấy còn chỗ nào chưa sạch thì người bị mắng và ăn đòn đầu tiên sẽ là chị cả. Vì là chị mà không chịu bảo ban các em nên phải chịu trách nhiệm. Cái lý của bố là như vậy.

Anh tôi ham chơi nên chủ quan, tưởng thế nào bố cũng ngủ trưa như mọi ngày nên tót đi theo đám bạn mà không hề biết bị bố đi theo ngay đằng sau lôi cổ về khi chưa bắt được con chuồn chuồn nào cả. Hôm đó anh ăn no đòn mà cả bà và mẹ tôi cũng không thể can ngăn hay đỡ đòn cho anh được. Khi ấy chắc anh khoảng 12 tuổi là cùng!

Sợ bố, anh trốn biệt đến tối cũng chẳng thấy mặt mũi đâu nhưng cả nhà đều nghĩ anh quanh quẩn bên các bác nên cũng mặc kệ. Đến 9 giờ tối, vẫn không thấy anh về, bà tôi phát hoảng cầm đèn đi tìm khắp xóm gọi tên cháu ời ời. Bà thương và chiều anh nhất nhà (cháu đích tôn mà) nên đứng ngồi không yên mang theo cây sào rõ dài để khua xuống ao xem anh có dại dột mà nhảy xuống đó không . Ở quê mọi người nói trẻ con mà đi lang thang buổi tối rất dễ bị ma rủ, có người tự mình chui vào bụi tre rồi kẹt cứng trong đó, có khi phải chặt cả bụi tre mới lôi được người ra ! (bà tôi rất sợ anh bị ma giủi).

Mọi cố gắng của bà đều không có kết quả, đêm ấy bà tôi thức trắng. Sáng ra bà dậy sớm thổi cơm rồi nắm thành 7 nắm nhỏ cho vào cái mẹt cùng vài thứ hoa quả linh tinh trong vườn nhà mang ra đầu cổng thắp hương hú hồn, hú vía gọi anh về. Mãi sau này lớn lên, tôi mới hiểu tại sao bà làm vậy, còn lúc đó mấy chị em thấy bà làm gì thì đều thành tâm làm theo với hy vọng anh tôi sẽ về chứ tuyệt nhiên không hề thắc mắc gì cả.

Mất cả ngày hôm đó, bà chẳng nuốt nổi miếng cơm ngoài việc nghĩ đến anh, nhìn bà héo hắt vì lo lắng chị em tôi chẳng biết làm gì ngoài việc ra vườn vạch từng bụi đao (Dong riềng) xem anh có trốn trong đó không thôi. Trẻ con trong xóm cũng được huy động đi khắp các ngõ ngách, ao hồ để tìm nhưng đều không thấy anh.

Buổi chiều, chị gái tôi thổi cơm, trong bếp hết không còn gì đun nên ra chỗ chứa củi dự trữ chỉ dành cho mùa đông và những ngày mưa gió lấy củi thì thấy anh nằm còn queo sát tận mái ngói. Người ngợm hôi sì và bẩn như con chuột cống. Bà tôi mừng rỡ lôi anh xuống mà nước mắt lưng tròng, xót xa hỏi han rồi sờ nắn khắp người chỉ sợ lỡ may anh bị rắn cắn (vì có hôm mẹ tôi bảo nhìn thấy con rắn cạp nong cạp nia trong đó) rồi lại sợ anh chết thành con ma đói. Anh tỉnh bơ trả lời không đói vì trong khi mọi người không có nhà anh đã kịp mò xuống ăn cơm nguội, nếu không sang nhà các bác ăn ngô bung, khoai luộc (Nhà các bác lúc nào cũng có một rổ ngô hoặc khoai luộc treo ngay chỗ hiên nhà) .

Sau lần ấy, anh sợ bố tôi hơn. Còn bố tôi càng về già càng dễ tính và chẳng bao giờ nói nặng với các con nửa lời, khác hẳn ngày chị em tôi còn nhỏ. Đòn roi cũng thưa dần rồi hết hẳn. Những trận đòn của bố ngày xưa được mang ra kể mỗi khi có dịp cỗ bàn như những câu chuyện vui, như để nhớ lại những kỷ niệm ngày thơ ấu. Bà tôi không còn ở trần gian đã lâu lắm rồi, bố tôi cũng ra đi sau cơn đột quỵ mà chẳng kịp nói gì với các con. Anh tôi, dường như quá đau lòng sau sự ra đi của bà, rồi của bố đến nỗi tính tình trở nên lặng lẽ hẳn và dành hết tâm sức chăm lo hương khói, phần mộ cho bà và bố tôi cực kỳ chu đáo. Chị em tôi tin, ở đâu đó trên thiên đàng, bố tôi có thể mỉm cười và yên tâm về lũ con của mình.

Lại sắp đến ngày giỗ của bố tôi, nhớ lắm, cứ ngỡ bố đang chờ ở nhà nhưng lại xa xăm mãi tận nơi nào.

Pha Phôi

LỜI THỀ CỎ MAY

in Tản văn

Tôi biết cô trong một lần đi giao lưu cùng gr fb. Buổi ọp đó khá đông và các người đẹp rất tự tin trong xúng xính váy áo. Tôi sa đà cùng các nàng đến nỗi không uống cũng say. Cô không gây ấn tượng lắm bởi vẻ ngơ ngơ và rụt rè. Hình như hôm ấy cô chỉ ngồi im một chỗ và mỉm cười nhã nhặn với tất cả mọi người. Thậm chí tôi cũng không nhớ nổi khuôn mặt cô ra sao. Có lẽ tôi sẽ quên cô giống như bao người tôi đã gặp trên đường đời nếu như không có buổi chiều định mệnh ấy.

Cô đến thành phố tôi ở để thực hiện một dự án về trẻ mồ côi. Không biết có phải do tà áo dài tím cô mặc hoặc là do sự thương cảm với những đứa trẻ, mà không, có lẽ là do sự dịu dàng của cô mà hình ảnh của cô lại lung linh trong mắt tôi đến vậy. Tôi cũng không biết nữa. Tôi tìm gặp cô. Cô đón nhận sự thân thiện của tôi một cách khá thận trọng. Trong nửa tháng cô lưu lại thành phố này, chúng tôi chỉ cùng nhau ngồi ngắm hoàng hôn trên mặt hồ và nói về văn chương. Không ngờ cô đọc nhiều đến vậy. Cũng không ngờ cô có những hiểu biết và suy nghĩ rất sâu sắc đến thế. Tôi cứ hình dung có lẽ cô đã phải trải qua rất nhiều giông gió thì mới có được góc nhìn đặc biệt ấy. Tự dưng trong lòng tôi vương vấn.

Khi đã đủ thân thiết, đủ tin tưởng rồi tôi mới biết được cô là người có nghị lực và thật nhân hậu. Chúng tôi trở thành bạn thân của nhau. Cô hỏi tôi có muốn là bạn của cô mãi mãi không. Tôi cười ngất rồi thề suốt đời này sẽ là bạn của cô.

Càng là bạn thân, tôi càng cảm thấy cần có cô trong đời, càng khao khát cô. Tôi yêu cô, yêu thật sự. Vậy mà tôi phải cố gắng là bạn thân của cô mặc dù trong lòng dậy sóng. Chúng tôi vẫn gặp nhau, vẫn ngồi cùng nhau với ấm trà mạn trong ráng chiều bên hồ. Vẫn kể cho nhau nghe những câu chuyện không đầu không cuối man di tỉ muội. Dưới ánh nắng cuối ngày được hắt lên từ sóng nước, nhìn cô như được tạc bằng đá. Mơ hồ và lạnh lẽo. Không biết bao nhiêu lần tôi muốn cầm tay cô, nhìn sâu vào đôi mắt cô và nói thật rõ ràng cho cô nghe ba tiếng : Anh yêu em. Không biết bao nhiêu lần tôi muốn ôm cô thật chặt và đặt lên đôi môi mềm mại của cô một nụ hôn sâu. Cũng không biết bao nhiêu lần tôi muốn gào lên cho tất cả mọi người biết rằng tôi yêu cô. Vậy mà tôi không thể làm được bởi giữa tôi và cô đã đặt một lời thề.

Tôi không đủ can đảm bước qua lời thề vì tôi biết nếu tôi phá bỏ lời thề thì tôi sẽ mất cô vĩnh viễn. Tôi ghét lời thề này. Tôi cứ ước lời thề như cỏ bay khỏi cuộc đời tôi mà găm vào những gã đàn ông khác.

Chiều nay có một gã trai ngẩn ngơ nhìn lá vàng rơi và lẩm nhẩm :
“Trăng vàng đêm ấy, bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may…”

Mai Lê

CHIẾC ÁO MÙA THU 

in Tản văn

Tôi có một người em gái nhỏ. Ham máu giang hồ tung bước trời xa, mải miết về phương Nam xa xôi, một vùng đất nghe nhiều người nói nắng rực rỡ quanh năm. Đó cũng là vùng đất thiếu cái lạnh buốt tê tái của xứ Bắc khi vào đông, thiếu hơi nồm ẩm thấp của mùa xuân khi vừa qua tết. Và tất nhiên, không thật có nhiều ngày nắng vàng tươi dịu dàng trên từng mái phố với lá vàng rơi khắc khoải khi tiết trời vào thu của xứ Bắc Hà…


Càng đi về phương Nam, mùa thu càng ít lá vàng, thậm chí không có lá vàng, vì thực chất không có mùa thu. Lá vẫn cứ xanh và không chịu rụng, lá vẫn cứ mãi mê quang hợp để cây trái ngọt ngào. Chắc chắn khi thưởng thức hoa thơm trái ngọt của phương Nam, trong vườn cây rợp bóng lá xanh, không ai có thể ngăn cản một trời thu ước lệ trong tâm hồn thi sĩ đầy lá vàng rơi và từ đó cảm hứng thi ca vẫn mãi dâng trào.
Cảnh vật, đất trời vào thu luôn mang một cảm giác man mác gợn buồn nhưng lại là thời điểm thiên nhiên rực rỡ và quyến rũ nhất trong bốn mùa. Những con đường nhuộm sắc vàng rực rỡ của lá, kèm theo cái lạnh dịu nhẹ và không khí dễ chịu khiến cho lòng người như vỡ òa trước vẻ đẹp khó cưỡng của mùa thu.
Em tôi yêu bốn mùa của miền Bắc. Nhưng có lẽ em yêu hơn cả là mùa thu. Ngày còn nhỏ lấm lem áo phông quần cộc, nó tha thẩn đuổi bắt những con chuồn kim cạnh bờ ao. Những con chuồn chuồn ớt đỏ thắm rồi véo von “ Chuồn chuồn có cánh thì bay, có anh cu Tí dang tay bắt chuồn”. Em ngẩn ngơ trước những bông hoa mướp cuối mùa vừa rụng xuống. Những đêm trăng sáng em tôi thường ngồi bên bà nội xem bổ cau và nghe đọc ca dao:
“ Cốm xanh hồng thắm đưa duyên
Ai đi hỏi vợ làng bên thẹn thùng”
Và càng ngạc nhiên khi nghe bà thở dài. Tiếng thở dài loang trong gió thu. Bà lại nhớ về thời con gái xa xưa. Cô gái cầu Đông hay chữ, đảm đang khung cửi guồng xa mơ một ngày kia bên chàng đọc sách, bên nàng quay tơ. Thế rồi giữa mùa thu bà về làm vợ ông tôi không như ước nguyện để “ cau Liên Phòng nhớ giầu không thôn nào”. Tiếng thở dài như dầy hơn và ướt đẫm sương thu. Ánh mắt em tôi sóng sánh trăng khi ngước nhìn bà. Nó bé quá chẳng thể nào hiểu hết được tiếng thở dài ấy. Em nhanh tay xoa những miếng cau vừa bổ vào nhau. Xoa cho ngạc cau hồng ửng lên như màu má gái chưa chồng. Và sếp đều vào nong phơi để ngày mai tắm nắng.
Thu trôi qua! Và thu lại đến. Em tôi càng yêu mùa thu hơn khi em xa quê vào tận Sài Gòn lập nghiệp mà lòng vẫn rưng rưng khi nhớ về xứ Bắc. Em vẫn thường gửi cho tôi những trang văn của em viết về mùa thu. Và như bao cô nàng đa cảm xa quê khác, mùa thu trong em thường nhiều dĩ vãng. Thật nhiều!
Tôi thấy mùa thu trong những câu thơ, hay bài tản văn của em là hương hoa sữa vướng víu khôn nguôi, trong từng con đường của Sài thành mà em vẫn chợt nhận ra xốn xang hoa sữa của phố Nguyễn Du hay hồ Thiền Quang Hà Nội.
Vẫn nhận ra những góc cà phê quen thuộc xưa em với bạn bè thường ngồi nơi nhà thờ lớn Hà Nội mỗi sáng chủ nhật. Vẫn nhận ra loài hoa Sưa trắng sáng ngang trời thường nở chừng mươi ngày vào đầu xuân khi trời còn lành lạnh mà nghe đâu đây đã ăm ắp xuân non. Chợt thấy Hà Nội vẫn bồn chồn trong mỗi bước em đi.
Tôi không có nhiều kỷ niệm mùa thu, về Hà Nội như em, nhưng tôi lại nhớ biết bao nhiêu, những bài văn, những câu thơ viết về mùa thu.
Bạn biết không? Trong dải đất hình chữ S này, đâu đâu cũng có thu về.
Có điều mùa thu ở mỗi nơi mỗi khác, mùa thu cuối chiều Đà lạt xanh xao xa vắng, bước vào thu, Đà Lạt là những ngày nắng ráo với những tia nắng vàng đang xuyên qua tán thông. Gió thu nhè nhẹ làm cho tiết trời Đà Lạt hơi se lạnh buổi sớm với sương bao phủ, khiến cho người ta thèm một chút hơi ấm để xóa đi cái cái lạnh của thu. Mùa thu biển Vũng tàu chộn rộn nồng nàn mùi hoa dại bên đường, bên vạt áo heo may em găm đầy cỏ. Và mùa thu phương Nam thì lại như một khoảnh khắc bất thường, thoắt ẩn thoắt hiện làm cho ta muốn xúng xính áo quần cũng e ngại. Thu ấy ngắn ngủi và đường đột như một tiếng gõ cửa dội vào lòng ta những đêm không ngủ…
Và mùa thu trong thi ca, mấy ai mà không có lần rung động viết lên những câu thơ về mùa thu khi thời tiết chuyển mùa. Nếu như Phạm Tiến Duật đã từng viết về mùa hè thật hay: “Trái nhót như bóng đèn tín hiệu / Trỏ lối sang hè ”.Thì Nguyễn Đình Thi lại thật tài hoa khi viết : “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Và Trịnh Công Sơn lại tinh tế viết về mùa thu Hà Nội: “Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ, nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu…”
Mùa thu như chiếc áo đổi màu. Mỗi người mặc vào lại mang một màu sắc khác. Màu sắc ấy đã và đang tạo cho cuộc đời cho thi ca.

Lê Hà Ngân

ĐÈN CHAI

in Gia đình/Tản văn

Cả nhà vừa ăn xong cơm chiều thì bà ra chơi. Bà nội.
Lúc nào cũng vậy, bà không bao giờ ăn cơm với nhà tôi mà chỉ tranh thủ ra chơi tí buổi chiều khi trời đã bắt đầu nhập nhoạng. Khi những ngọn tre cong vút bên bờ ao ông Cải đã ngả sẫm màu, là dáng bà chậm rãi như thể đi ngang hai bàn chân, từ từ bước vào ngõ. Trên tay bà lúc nào cũng xách theo cái đèn chai chưa thắp.
Bà đặt cái đèn xuống cạnh cột ngoài hiên, tiếng dây thép cọ vào cái chao nhè nhẹ. Rồi lấy tay phẩy bụi hai ống quần, và ngồi ghé xuống góc chiếu đầu hiên chờ tôi bê mâm bát rếch ra bờ giếng.
Hôm nay bà có đi chợ không hả bà. Mẹ đang lục xục với hai con lợn chỗn dưới bếp hỏi vọng lên.
Thì vẫn đi. Dạo này ế lắm.


Bà tôi bán hàng la ghim ở chợ Lá, chợ Cà. Ngày nào cũng tinh sương quẩy gánh băng đồng. Trong cái thúng đậy bằng hai cái mẹt có một ít vàng hương, giấy tiền, một ít kim khâu chỉ đen và dăm hộp thuốc sài. Gánh hàng nhẹ xọp, về già, bà bỏ gánh, lại còn nhẹ hơn, bà đội thúng trên đầu. Lầm lũi hết hạ sang đông. Tôi không biết đã bao năm bà gắn bó với hai cái chợ xép quê tôi. Hai cái chợ chia nhau họp vào hai ngày chẵn lẽ. Cả tổng, ấy vậy, ai cũng biết bà, quý mến bà. Tôi đi đâu, muốn xưng danh để xin gáo nước mưa vì giữa đường xe xịt lốp, cũng chỉ cần vào đại một nhà ” Cháu là cháu nội bà Dăn”.
Ông nội lòa hơn chục năm không làm gì được, chỉ lần từ buồng ra võng kể chuyện hồi đi làm phu khuân vác trên bến thóc, rồi đi vác sợi cho nhà máy dệt. Chú Tổng ốm đau quặt quẹo từ bé, tiêm hết cả bao tải pê ni xi nin. Một tay bà cáng đáng. Ông mất. Chú Tổng lấy vợ, bà vẫn ở nhà trong và tiếp tục chạy chợ lần hồi. Bà không muốn phụ thuộc các con, dù tất cả đều một mình bà nuôi khôn lớn.
Cuộc đời mỗi người một cảnh chẳng giống ai. Ông nội tôi cưới bà. Rồi bà lại đi hỏi vợ cho ông khi biết mình không sinh nở được.
Chăn đơn gối chiếc. Lại khuya sớm lần hồi nuôi cả gia đình. Khi thân mẫu của bác, bố và chú, tức bà nội đẻ ra bố tôi qua đời, chú Tổng vẫn còn bé xíu. Vai bà đã nặng, lại trĩu hơn. Đôi quang gánh, mớ hàng xén lại thêm phần nặng quẩy.
Ông bà cho cậu cả ra riêng sớm. Bố mẹ tôi lại đẻ nhiều. Lẽ vậy, nên bà bảo, tao ở nhà trong, vừa là nhang khói tổ tiên vừa là giỗ chạp gì cũng làm trong này. Khi nào tao mất rồi thì tính sau.
Bà chưa mất. Chú Tổng chưa xây được nhà mới. Ngôi nhà gỗ ba gian có từ thời cụ nội vẫn đẹp thứ ba ở làng, sau nhà cụ Kỹ và nhà ông Bẩy. Sân lát gạch Bát Tràng đỏ au. Sau nhà, cây vú sữa cổ thụ tỏa bóng, lá già vú sữa rụng đầy mái ngói làm tăng vẻ quá khứ cho những mũi hài. Sập gụ tủ chè lúc đói bố tôi bán sạch. Nhà chỉ còn đôi chân niễng kê hai miếng gỗ hương ông nội để dành cho người bạn đời tri kỷ của mình. Đã 13 năm nhà vắng bóng ông, vắng những tiếng võng kẽo kẹt trưa hè và lời rì rầm kể chuyện.
Tôi bê mâm bát ra bờ giếng. Phần còn lại là của thằng Thương vì tối tôi đã nấu cơm. Mẹ lại gọi với, Dũng rớt cho bà cốc nước. Cái cốc màu cánh gián sứt miệng, cái cốc bồi bằng giấy kiểu gì cứng như sừng rơi bao lần không vỡ, một sản phẩm dưới đít dập hàng chữ ma de in u ét xì a. Hồi đó tôi đọc vậy. Bọn trẻ con trong làng đều đọc vậy.
Bà uống cốc nước, chép chép miệng. Bố và bà chả nói chuyện gì. Rồi bà cầm bọc lá chuối khô anh em tôi tước chiều qua để nhờ bà bán đổi kẹo bi. Bà bảo thôi tôi đi về…
Tôi lấy máy lửa dưới bếp. Cái máy lửa bánh xe đá cối đổ dầu hỏa đầy muội. Tôi nhấc cái chao đèn cắt bằng cái chai xanh nửa lít và gạt hoa bấc, châm đèn cho bà.
Một tay ôm bọc chuối khô, một tay xách cái đèn chai, bà lại lần bước từ từ ra đầu ngõ, dáng đi như thế đi ngang. Chậm rãi.
Tôi nhớ cái hoa muội vừa gạt khỏi bấc đèn. Marx bảo không có loại hoa nào màu đen trong các loài hoa.
Vậy mà có. Bà tôi. Tảo tần và tù mù như một cái hoa đèn.

Lại Trọng Tình

CHỚM THU

in Thơ

Chớm thu rồi cacc ạ,
Tạm quên đi những nhọc nhằn, những bon chen thường nhật, hãy dọn lòng mà đón những cơn vui, để ta thấy cuộc đời này tươi đẹp lắm.
Gái ngoan hãy vén váy khép chân để cùng bọn thi nhân làng ta phát tiết trong cơn nức nở tưởng chừng như đã chạm môi Thu.

đương còn say dở giấc mơ hoang
chợt nghe chó sủa dậy xóm làng
bóng ai lấp ló ngoài song cửa
tôi biết nàng Thu đã chớm sang
.
gặp nhau vừa lúc đã cạn ngày
nhìn nhau cũng đủ chếnh choáng say
vừa ướm môi nhau là tôi đã
lùa tay sờ xoạng cái heo may
.
tôi trấn an Thu: ngại đếch gì
đến rồi em hãy cứ vui đi
chăn chiếu tôi còn thơm nắng hạ
tranh thủ dùng mau kẻo lỡ thì…
.
Thu bảo rằng Thu hẵng còn son
chửa biết yêu đương méo hay tròn
đêm này gặp cụ vồ vập thế
e rằng nát mẹ cái trăng non
.
tình tôi đem đốt để làm đèn
thơ tôi Thu cứ gối đầu lên
tôi sẽ dìu Thu vào lối mộng
kệ lũ côn trùng ú ớ rên
.
sáng nay vừa dậy đã thấy Thu
ươm mùa lên nắng hát vi vu
điệu đàng gom lá cài lên áo
làm cả vườn tôi rộn tiếng cu
.
tôi sẽ iêu nàng trong đắng cay
vì vài tháng nữa sẽ chia tay
cơ mà nhẽ thế là hợp ý
iêu lâu khác đếch sống tù đày

Ngô Đồng

1 2 3 4 5 7
0 0
Go to Top