trang thông tin điện tử của những người việt xa quê

Category archive

Xã hội - page 2

PHÁO TẾT

in Gia đình/Sống ở làng/Sự kiện/Văn hoá/Xã hội

Tết thời niên thiếu của tôi chắc hẳn cũng như mọi người thuộc thế hệ 8x về trước có lẽ đều bắt đầu từ pháo. Cứ vào đầu Tháng Chạp, trên tay bọn trẻ con đã có những bánh pháo tép (loại pháo bé đúng bằng con tép) xinh xinh màu xanh màu đỏ cùng que hương đang cháy dở để thi thoảng châm ngòi, cũng là lúc tiếng pháo nhúc nhắc nổ đì đoàng rộn khắp cả thôn làng. Mật độ tiếng pháo cứ dày dần đến những ngày chính Tết, pháo được đốt đến khi hóa vàng, hạ cây nêu thì tiếng pháo mới tắt.

Chuyện pháo của trẻ con thì nhiều lắm, từ chuyện quấn pháo, đốt pháo và những trò nghịch ngu dại của thế hệ bấy giờ. Bọn trẻ con chúng tôi gom sách báo cũ, giấy màu, thuốc pháo để cuốn các loại pháo to pháo nhỏ rồi kết thành tràng. Có khi tràng pháo được buộc vào đuôi trâu rồi đốt khiến trâu hoảng sợ chạy loạn khắp cánh đồng. Nhưng kinh điển và khốn nạn nhất vẫn là trò cắm pháo vào bãi phân trâu rồi châm nổ. Dù là quả pháo đùng (cỡ pháo to ngang cổ tay) thì khi cắm vào đó nổ cũng chỉ nghe đánh Bụp, phân trâu văng tung tóe hàng chục mét, sẽ cực kỳ đen đủi nếu đúng lúc có ai đi đến gần. Có lần châm ngòi rồi mà mãi không thấy nổ, tưởng xịt, một thằng lại gần kiểm tra nhưng vừa đến nơi thì…. Bụp…. quần áo, mặt mũi nó tuyền một màu phân trâu lem luốc…

Trò mà lũ trẻ con thích nhất trong mấy ngày Tết chính là trò cướp pháo. Cứ nghe thấy hàng xóm nhà ai có tiếng pháo nổ là chạy sang đứng chầu dìa, chờ tràng pháo nổ xong đến quả cuối cùng là cả bọn xông vào cướp những quả pháo xịt rơi xuống lăn lông lốc. Tranh nhau chí chóe, đứa được đứa không, nhưng kết thúc thì đứa nào mặt cũng hơn hớn khoe nhau hoặc so sánh được pháo to nhỏ hay nhiều ít, đứa không có thì hy vọng “đỏ” hơn khi sang nhà khác, có khi còn may mắn được chủ nhà lì xì mừng tuổi đầu năm lại càng sung sướng hơn. Nhớ một lần, tôi cướp được pháo xong đút túi quần, nào ngờ quả pháo chưa tắt hắn nhưng phải đến 5 phút sau quả pháo mới bất ngờ phát nổ làm rách toang quần và sém đen vùng đùi để lại dấu tích đến giờ.

Mấy ngày Tết, các anh thanh niên hay đốt loại pháo thăng thiên nửa xanh nửa đỏ ở sân đình. Khi đốt nửa đỏ nổ tại chỗ nghe Đùng, nửa xanh phụt lên trời mới nổ nghe Đoàng khiến bọn trẻ con há mồm ngửa cổ nhìn lên xem pháo. Còn có loại pháo được ghim vào một cái que nhỏ, ngòi ở phía dưới, khi ngòi được châm, quả pháo phụt lửa bay lên rồi mới nổ nhìn rất vui mắt. Ngoài ra còn các loại pháo dây, pháo diêm… mỗi loại mỗi kiểu rất đa dạng.

Nhưng ấn tượng mạnh nhất cũng là điều trẻ thơ hồi bấy giờ háo hức nhất chính là thời khắc đốt pháo Giao Thừa. Từ chiều 30, bố tôi đã treo sẵn bánh pháo to, dài ngay trước cổng chờ đến lúc 12h đêm, khi bà nội tôi bắt đầu làm lễ ngoài sân thì bố tôi trịnh trọng châm ngòi cho tràng pháo đón chào năm mới. Thời điểm đó nhà nhà đốt pháo, khắp nơi đốt pháo, tiếng pháo nhà này gối lên nhà kia, tiếng pháo gần xa dồn dập, rộn rã kéo dài liên tục khoảng nửa giờ không dứt khiến bầu trời sáng rực những ánh chớp của pháo. Mùi khói thuốc pháo, khói trầm hương bảng lảng hòa quyện cùng bụi mưa xuân lất phất trong thời khắc trời đất giao hòa tạo nên không khí thiêng liêng rạo rực và ấm áp vô cùng. Sáng mồng Một nhìn ra sân, ra ngoài đường đỏ rực một màu sác pháo tô điểm thêm cho ngày Tết càng rực rỡ.

Pháo ngày Tết trong tuổi thơ tôi có lẽ còn hơn cả tấm áo mới, hơn cả tiền mừng tuổi, hơn cả bánh trưng và những đồ ăn mà ngày thường không có. Tiếng pháo chính là báo hiệu sắp được nghỉ tết, với những trò nghịch ngợm liên quan đến pháo mà hậu quả nhiều khi dở khóc dở cười đã trở thành miền ký ức thật đẹp và sâu đậm sau này không bao giờ có được.

Lại sắp Tết rồi, mặc cho ai đó đề xuất bỏ Tết hay nói gì đi nữa thì không khí Xuân vẫn tràn ngập và Tết vẫn đến như ngàn đời nay vẫn vậy. Dù rằng phong vị Tết nay khác Tết xưa nhiều quá nhưng cái hồn dân tộc được thổi vào trong Tết thì vẫn trường tồn. Tôi ước giá như pháo không mang lại những hệ lụy khủng khiếp cho những người sản xuất pháo, thậm chí cả những người đốt pháo khiến nhà nước không phải ban hành lệnh cấm pháo từ năm 1994 đến nay. Để ngày Tết không bị mất đi một phần phong vị đặc biệt, một giá trị tinh thần mà tôi cho rằng khó có gì thay thế được thì hay biết mấy. Nhưng tất cả chỉ là giá như…

Nguyen Minh Tuan

KÍ ỨC TẾT XƯA

in Gia đình/Sự kiện/Văn hoá/Xã hội

Xưa nhà nó vốn rất nghèo. Không phải do bố mẹ nó lười nhác không biết làm ăn mà là do đứa em gái bị bệnh nan y đã kéo gia đình nó khánh kiệt từ bậc trung xuống hạng bần cùng nhất xã hội thời đó.

Sáng ăn lót dạ củ khoai, củ sắn đi bộ đến trường học với chiếc bị cước cầm tay để đựng sách vở. Chiều về phụ mẹ trông em hoặc đi hái rau dại về cho lợn. Chủ nhật được nghỉ thì đi theo mẹ vào rừng chặt củi, lấy măng về bán. Nghỉ hè theo bạn đi cất tôm tép về cải thiện bữa ăn cho gia đình .

Còn nhớ tết năm ấy, mẹ nó bảo là năm nay nhà không có tiền để mua áo quần mới . Anh em nó biết vậy nên cũng chẳng đòi hỏi gì. Thế là nghĩ cách kiếm tiền. Khoảng 23 -25 tết, hai anh em nó vào rừng lấy lá dong về bán. Giữa bạt ngàn rừng núi mênh mông, mắt nó chỉ chú ý chỗ nào nhiều dong là trườn tới. Đến khi thấy ngứa ngứa ở đôi chân trần mới nhìn xuống . Eo ơi, cơ man nào là vắt. Có con hút máu no cằng bụng chỉ cần lấy tay đụng nhẹ là tự rơi; có con mới bám vào chân lấy tay kéo ra còn cố bám không chịu nhả; có con thì đang khom lưng bò lổm ngổm lên đùi để tìm chỗ tác chiến. Hết con này tới con khác bò lên, bắt mãi cũng không hết được đành kệ chúng mày thích làm gì thì làm, cắn chỗ nào thì cắn….

Gánh lá dong oằn hết cả đòn gánh , nặng trĩu trên đôi vai bé nhỏ. Chiếc đòn gánh xoay phải rồi lại xoay trái đổi vai liên tục khiến cho những làn da mỏng ở vai bong tróc từng mảng nhỏ, đau buốt đến tận xương. Đôi chân trần lội qua khe suối mùa đông. Nước lạnh, cùng với cái giá rét căm căm của mùa đông khiến chân nó nứt nẻ chảy máu y như bị người ta lấy dao lam rạch từng đường nhỏ chằng chịt trên mu bàn chân và gót chân. Cái cảm giác đau rát, nhói buốt vì vết nứt nẻ mỗi lần lội suối ấy không bao giờ có thể quen được. Những Gánh lá dong ấy theo mẹ ra chợ ngồi bán cả buổi với biết bao bàn tay nâng lên đặt xuống, cò kè thêm bớt cuối cùng cũng đổi được áo quần mới và vài thứ lặt vặt khác khiến nó vui vô cùng

Tết không có tiền mua pháo thì tự làm. Mua một ít thuốc bột pháo với mớ giấy vụn cùng các thao tác cắt giấy, cuốn pháo bằng chiếc đũa nhỏ, bỏ thuốc vào lỗ, nhét ngòi, kết giây … Thế là có pháo đốt giao thừa và sáng mồng 1 tết . Vui nhất là pháo chưa đốt xong, đang nổ đèn đẹt mà nó cứ khom lưng dưới tràng pháo để lượm pháo điếc. Có khi bị pháo bắn rơi trúng người cháy cả một mảng quần áo.

Nhà không có tiền mua hoa thì nó mua giấy màu về tự cắt dán . Bóng bay loại thổi xong miệng đủ màu xanh đỏ, treo từng chùm . Trên bàn thờ có vài loại quả trong vườn tuy giản dị nhưng cũng làm nổi bật được không khí ngày tết .

Không khí tết có lẽ rôm rả và rộn ràng nhất là khi nghe đầu làng cuối xóm eng éc tiếng lợn kêu. Thời đó hàng chục hộ mới chung nhau con lợn vài ba chục kí. Khoảng 28- 29 âm lịch, các nhà đều phân công người đi làm thịt lợn. Thịt lợn được chia đều lắm. Mười nhà thì có đủ các món như thịt mông, xương, đùi, thịt ba chỉ và cả lòng luộc nữa. Lòng luộc xong rồi mới chia. Sau khi chia xong mọi thứ, các bố mới chia nhau nồi cháo lòng. Ôi chao, thấy bố mang về nồi cháo lòng còn nóng hôi hổi , bốc hơi nghi ngút là những đứa trẻ như nó đều chảy nước miếng, mắt thao láo nhìn nồi cháo như chỉ muốn nuốt chửng luôn cả nồi . Nồi cháo lòng không giải tỏa được cái nỗi thèm thịt mà suốt cả năm trời nó không được ăn lấy một lần. Năm nào nó cũng chỉ mong tết đến để được ăn thịt mỡ cho đỡ thèm …

Sáng nay đi chợ , với lượng hàng hóa đa sắc màu cùng nhiều món ăn từ trên rừng dưới biển. Cầm tiền trong tay nó không biết mua cái gì. Lại nghĩ thịt mỡ ngày xưa sao ngon đến lạ…

Nhi Nguyễn

SÓI CON (PHẦN CUỐI)

in Gia đình/Xã hội

Đoàn người đưa tang trở về làng trong lầm lũi, buồn thảm lẫn đâu đây những tiếng oán hờn. Những gương mặt mệt mỏi, những thân hình rệu rã. Vài đống rấm được đốt lên trong buổi chiều tà càng làm cho không khí ảo não.

Trở về nhà nó, trống trơn, sạch bách. Hai chậu bồ kết được đốt lên. Những người anh em bên ngoại chúng tôi thất thần khi nhìn thấy tất cả những gì còn lại của gia đình nó đã được đốt sạch, kể cả chiếc giường cưới của bố mẹ nó.

Tôi là người thiên hạ đến làm rể quê nó, đất lề quê thói tôi không muốn tham gia. Nhưng cái ấu trĩ, sự ngu dốt đến ngu muội cùng những hủ tục dường như đã ăn sâu vào suy nghĩ của những người bên nội mà trực tiếp là hai chú ruột nó. Bởi hai lần đưa bố mẹ nó vào áo quan, trong khi tôi và bố vợ tay không nhấc thi hài thì hai chú ruột nó đã bịt chặt khẩu trang, đi găng tay, đi tất, rồi chọn cho mình bộ quần áo cũ nhất để mặc. Xong việc chúng mang ra sông mà đốt cùng những đồ của người chết như một sự ghê tởm.

Trở lại với sói con, nó đã thất thần, ngơ ngác, bỏ ăn mấy ngày. Không có một cuộc họp bàn của hai bên nội ngoại được đưa ra để nói về vấn đề của nó. Bởi dân quê luôn nói với nhau rằng: “bên ngoại không có quyền nuôi dưỡng”. Nó ở cùng với bà nội đã già yếu và không có lương hưu, chỉ quẩn quanh mấy sào ruộng khoán.

Khốn nạn hơn cho số phận của nó khi chính những người lớn đã thổi vào đầu óc những đứa anh em bên nội, những đứa bạn của nó rằng: “đừng chơi với nó, nó bị sida”. Thương nó đến nghẹn lòng, nhưng chúng tôi cũng chỉ biết lặng nhìn nó, cùng với những tấm áo manh quần mà không thể mang về nuôi dưỡng. Bởi chúng tôi là đằng ngoại.

Nhiều khi nghe nó kể, cháu lạnh, cháu mơ thấy bố mẹ cháu về. Lắm lúc thấy nó nằm co ro trong chăn, tôi không thể cầm được nước mắt.

Không người bảo ban kèm cặp học tập, nó học sút dần. Mặc dù ba năm trước nó vẫn là học sinh giỏi. Nó vẫn ngoan, nhưng nó ít nói, thường hay ngồi một xó để khóc. Nó hầu như không còn bạn. Bạn bè của nó là những thứ đồ chơi mang người lớn mua cho. Nó chỉ được cười đùa khi những đứa anh chị em đằng ngoại ở xa về chơi.

Nó lớn lên trong sự đùm bọc của những người thân bên ngoại, của xóm làng. Hai ông chú của nó thì gần như vô trách nhiệm. Bởi họ vẫn còn suy nghĩ: “không khéo bị lây”.

Người ta có thể cho nó cơm ăn áo mặc, sự no ấm của vật chất chứ đâu có thể mang lại hơi ấm của cha mẹ nó.

Nó tốt nghiệp cấp hai trường làng, nhưng không thể thi vào cấp ba trường huyện được. Sức học của nó quá yếu. Một người bà con xa nơi phố thị đã tìm việc cho nó tại một garage. Nó chăm chỉ làm việc, học hỏi nhanh lại không sa đà rượu bia, thuốc lá nên người ta rất quý.

Thấm thoắt đã mười cái giỗ của bố nó. Tết Tây vừa rồi, nó đưa bạn gái về ra mắt gia đình. Nhìn sói con chững chạc hẳn lên khi nó cùng với bạn gái sửa lễ thắp hương cho bố mẹ. Mọi người đều mừng thầm, dù trong thâm tâm sợ đời sẽ xô nó ngã.

Khi tôi viết những dòng này, có thể sói con sẽ không thể đọc được, vì nó không quan tâm đến facebook của người lớn. Nhưng tự sâu thẳm, tôi và có lẽ nhiều người đang thầm cầu chúc cho sói con sẽ thành một chú sói dũng mãnh chứ đừng hoang dã.

Cảm ơn tất cả những ai đã quan tâm theo dõi câu chuyện của nó : Sói con.

SÓI CON (P2)

in Gia đình/Xã hội

Người ta đưa bố nó ra nghĩa địa vào chiều hôm sau. Nó lũn cũn đi theo vài người đàn bà đang phải xốc nách mẹ nó mà dìu đi. Cả đoàn người lặng lẽ, chỉ nghe những âm thanh của kèn trống, của tiếng hờ khóc, của những tiếng sụt sùi.

Người ta vùi bố nó dưới ba tấc đất nơi cuối đồng cùng với lời trăng trối đứt quãng trong những giọt nước mắt muộn màng, đục ngầu của bố nó với ông ngoại:

– Con xin lỗi ông vì đã không nghe lời ông bà và các bác khuyên can, để bây giờ hậu quả khôn lường. Xin ông bà các bác, các cậu mợ, chú dì yêu thương che chở cho nó.

Mẹ con nó trở về trong căn nhà vốn đã rộng rãi vì chẳng có gì đáng giá ngoài chiếc giường đã cũ và vài thứ đồ dùng cần thiết, nay lại càng trống trải, lạnh lẽo.

Nó vẫn ngơ ngác chưa hiểu bố nó đi đâu vào những ngày sau đó. Còn mẹ nó thì héo hắt, u sầu, đôi mắt đượm buồn.

Chuỗi ngày thê lương vẫn đeo bám mẹ con nó trong những lần nó cắp cái chậu theo mẹ mò cua bắt ốc, lần mò vậy nhưng đáp lại thì thu nhập chẳng đáng là bao. Nhìn cái nón mê trên đầu nó thấp thoáng nơi bờ ao, góc ruộng mà không khỏi chạnh lòng những người qua lại.

Mẹ nó đuối sức dần vì bệnh đã nặng, ăn uống bồi dưỡng thì không dám. Bởi mẹ nó biết, còn phải giành tiền để lại cho con. Thân hình mẹ nó tiều tụy hẳn như cành củi mục.

Dẫu biết trước sẽ có một ngày, nhưng không ai ngờ, khi nấm mồ bố nó chưa xanh cỏ, cái giỗ đầu chưa tới thì đầu nó một lần nữa lại nặng trĩu vành khăn tang.

Mẹ nó đi trong một đêm mùa hạ năm sau, oi nồng và nóng nực, sau những cơn đau quằn quại cùng những lời nói sảng như Xúy Vân giả dại. Nó gào khóc, nhưng thân hình mẹ nó đã mềm nhũn trong vòng tay bà ngoại nó.

Nó không còn ngơ ngác hơn được nữa. Cái nùn rơm to đùng trên đầu, cái gậy cao hơn nó đến cả gang tay. Nó gầy còm, ốm nhách đứng đáp lễ bên nhang án.

Lại một lần nữa, tổ ấm của nó kèn trống ảo não, đèn nhang lập lòe như những bóng ma lẫn tiếng khóc gào gọi tên người chết thảm thiết.

Những người đến thăm viếng mẹ nó không ai cầm được nước mắt.

Đầu giờ chiều hôm sau, trong lễ truy điệu mẹ nó, khi nghe lời nó đáp lễ trên loa, dường như tất cả những người có mặt đều cảm thấy trái tim mình đau nhói, họ đã khóc.

Chiếc xe tang kẽo kẹt rời khỏi làng, nhằm nơi bố nó nằm mà thẳng tiến. Hai năm, hai nấm mồ nhỏ bé, lặng lẽ bên nhau. Để lại dương gian nỗi đau và một sói con ngơ ngác…

– còn nữa –

SÓI CON (P1)

in Gia đình/Xã hội

Đây là câu chuyện hoàn toàn có thật, tôi muốn kể lại như thêm một lời cảnh tỉnh cho những ai còn theo đuổi cái chết trắng.

Nó kém tôi hai giáp. Xét về mối quan hệ họ hàng thì nó gọi tôi là chú rể. Bởi lẽ tôi và bố nó là anh em cột chèo.

Nó được hình thành trong hoàn cảnh cả bố và mẹ nó đều là những thanh niên làng thoát ly ruộng đồng để đến với chốn thị thành, mà người dân quê nó hay gọi là “đi chợ” hoặc ” chăn Tây”.

Bố nó không đẹp trai, nước da ngăm đen nhưng lại biết chơi, đặc biệt là có một giọng hát mà khi thêm vài đồng giấm nữa thì dẻo quẹo đến độ bất cứ đứa con gái nào nghe thấy cũng phải mê. Đó chính là lý do mẹ nó, hoa khôi của thôn, niềm ước ao của bao trai làng khi ấy phải rung rinh trái tim. Cũng chính vì cái lãng tử quê đó của bố nó mà khiến cho cuộc đời của mẹ nó rơi vào bi kịch.

Ngày nó ra đời, nhằm ngày nói dối. Hai bên gia đình khi ấy đều thuần nông nên chẳng lấy gì làm khá giả cho lắm. Họ vui mừng xen lẫn lo âu. Bởi khi đó bố nó đã có dấu hiệu ngáp vặt, mặt mũi nhiều khi bơ phờ cùng những đêm vắng nhà bất chợt.

Hai vợ chồng son, thêm đứa con thành bốn. Cuộc sống vốn đã khó khăn nay lại khó khăn gấp bội. Bố mẹ nó bỏ thành thị về nhà làm ruộng và chăn nuôi. Nhưng ông trời dường như đã không công bằng với mồ hôi nước mắt của bố mẹ nó. Một phần vì đồng vốn đầu tư không nhiều, lại thêm kỹ thuật chăn nuôi không được tích lũy, đàn vịt nhà nó cứ hao mòn dần theo cấp số nhân. Cạn vốn, tinh thần chán nản, bố nó lao vào đỏ đen cùng khói thuốc của nàng tiên nâu.

Nhiều đêm, người ta nghe thấy tiếng than khóc, tiếng đuổi nhau, tiếng chửi bới của đôi vợ chồng trẻ lẫn trong tiếng khóc ré lòng của thằng cu con. Mẹ nó nửa đêm ẵm con đi tìm chồng, lúc thì ở cái lều vịt ngoài rìa đê sông Hồng, lúc lại tại nhà tay Mốc – một gã nghiện lòi.

Kiệt quệ về thể xác và tinh thần, mẹ nó đâm ra cáu bẳn và chua ngoa. Vậy là bi kịch đã đẩy cao hơn. Chẳng ai còn nhận ra hoa khôi thuở nào nữa, bởi ở tuổi ngoài ba mươi, mẹ nó gầy xọm, đen đúa, già nua.

Thương con, mẹ nó mò cua bắt ốc đem ra chợ bán kiếm tiền mua cháo. Khốn nạn thay, mấy đồng mẹ nó cất giấu trong rương thóc phòng khi ốm đau, đã được bố nó đốt thành khói cùng với những đấu thóc cứ vơi dần.

Một ngày đầu hạ, một đôi vợ chồng trẻ cùng một thằng nhóc dắt nhau lên chốn kinh kỳ kiếm kế sinh nhai. Bố nó bốc vác, mẹ nó bán đồ linh tinh. Hàng ngày nó được đi dạo khắp ba mươi sáu phố phường trong cái địu trên lưng mẹ. Nó ngủ như một con chó con bất kể khi trời nắng mưa.

Bố nó lún sâu hơn vào khói thuốc, khi nặng quá đã trở thành bác sĩ hoa súng.

Một trận ốm của bố nó kèm theo những lần đi ngoài dài vô tận. Người ta đưa vào bệnh viện để tiếp nước và xét nghiệm. Cuộc đời đen bạc đến với nó khi mẹ nó biết rằng : bố nó đã giai đoạn cuối, mẹ nó cũng mang dấu cộng.

Người ta kê cho hai vợ chồng đơn thuốc và đưa về địa phương. Lại đồng ruộng, lại lều vịt, nhưng dù sao cũng đầy ắp tình cảm gia đình, họ hàng, làng xóm. Nhờ mọi người giúp đỡ cùng với chút sức khỏe cuối đời, bố mẹ nó cũng dựng được căn nhà cấp bốn.

Năm nó học lớp hai, những ngày cuối năm, mọi gia đình tấp nập chuẩn bị đón Tết, thì gia đình nó kéo nhau lên Hà Thành làm thuê. Bởi bố nó nghĩ : có thể đây là cái Tết cuối cùng gia đình nhỏ của nó được đoàn viên. Bố nó lết trên đôi chân teo tóp một cách khó nhọc, đợi chờ trước những quán nhậu để chờ người ta gọi: đánh giày. Bên cạnh là một thằng bé nhỏ thó, tay cầm cái mũ vải, môi tím tái vì giá rét đợi chờ những đồng tiền mà người ta trả cho công sức của bố nó. Ngoài kia mẹ nó đang làm giúp việc theo giờ cho các gia đình có nhu cầu.

Giao thừa, bố vợ tôi gọi điện, họ đã khóc. Cái Tết của sự chia ly.

Đầu hè năm đó, bố nó giã biệt cõi đời sau ba năm chống chọi với căn bệnh chết người. Nó ngơ ngác bên chiếc quan tài. Căn nhà lạnh ngắt, trống tuềnh cùng mùi nhang và tiếng gào khóc của mẹ nó lẫn trong tiếng bát âm thê lương…

– Hết phần 1-

Tú Uyên

THỰC TRẠNG NÔNG THÔN NGÀY NAY (P2)

in Sống ở làng


Làng ngày xưa chỉ có dăm chục hoặc trăm nóc nhà, từng ấy ruộng đất, bây giờ đã mấy trăm nóc nhà cả ngàn nhân khẩu mà ruộng đất không những không tăng lên lại còn thu hẹp, phần thì làm đường cao tốc khấu đi, phần thì cắt đất canh tác để lấy đất giãn dân, phần thì cắt để cho làm khu công nghiệp…

Đất đã ít người thì càng ngày càng nhiều lên mà nhu cầu đời sống bây giờ có phải như ngày xưa đâu, từ cái ăn cái mặc rồi thì chuyện học hành, bệnh tật cũng ngày càng nhiều, nông dân bây giờ cũng “hỏng” mồm rồi, ngày xưa ăn khoai ăn sắn cứ ngọt cứ bùi chứ bây giờ bát cơm không có tý thịt tý cá khó nuốt lắm, kém tý chất tanh người cứ bã ra chả muốn nhấc chân nhấc tay. Mâm cỗ ngày lễ tết hoặc khi ma chay hiếu hỉ món gì thì món đầy gì thì đầy nhưng không có đĩa tôm đĩa mực, đĩa thịt bò là hẻo lắm, kém cạnh lắm.

Đội ngũ cán bộ xã, thôn bây giờ nhiều như nông dân có xã lên đến mấy chục ông bà cán bộ, không hiểu sao lại sinh ra lắm cán bộ thế mà lại còn là công chức nữa mới kinh. Có lẽ phải xem lại cái chuyện cán bộ công chức xã, ngồi nhẩm sơ sơ cũng phải mấy trăm ngàn công chức kiểu này chứ không phải ít. Ngày xưa cán bộ xã thì trừ bí thư và chủ tịch xã là có chế độ lương, còn lại là ăn theo công điểm, gắn phụ cấp ấy luôn vào đồng ruộng, người ta vẫn làm tốt đấy thôi, đã là công chức thì Nhà nước phải trả lương và hưởng chế độ công chức, có công chức thôn nữa thì thôi rồi, chán chả muốn nói.

Cán bộ nhiều thì dân phải nộp thuế nộp phí nhiều cũng có gì là lạ. Hiện nay nhiều loại phí quá, có những loại phí chẳng theo qui định nào cả, nói rằng thu để làm cái này nhưng lại mang đi làm cái khác hoặc sử dụng vào những việc chẳng đúng mục đích, năm nào cũng thu tiền nói là làm đường làm kênh mương nội đồng mà nào có thấy làm được gì đâu, đường thì cỏ mọc um tùm, cái mương dẫn nước vào ruộng lúa mà chỉ có cái cống mấy năm trời cũng không thấy làm. Máy gặt lúa không vào được, xe kéo cũng không vào được để chở lúa. Thế cho nên cái chuyện thu phí là cực kỳ nhiêu khê nhập nhằng.

Nông thôn ngày nay cũng chả còn mấy nhà đun than đun rạ, đi dọc cả làng chả thấy khói bếp như xưa thay vào đó là bếp ga cho lịch sự nhàn nhã, ừ thì cũng phải tiến dần lên chứ. Thôi thì trăm thứ chi tiêu đều qui vào thóc, mà diện tích để làm lúa thì chỉ còn bằng nửa ngày xưa. Đành rằng bây giờ không còn lũ lụt, giống mới dễ làm và năng suất có cao thật nhưng thực ra trừ chi phí phân gio giống má, cày bừa, thủy lợi, nộp sản… Công xá còn lại chỉ vài chục ngàn một ngày. Dù chẳng còn nhà nào phải đói hạt gạo ăn nhưng nói là để giầu lên thì khó lắm. Những xã thuần nông ngoài cây lúa ra chẳng có thu nhập gì đáng kể, lúc nông nhàn chỉ biết đi làm thuê cho các làng nghệ với mức tiền công bèo bọt mà cũng bấp bênh. Buôn bán cũng chẳng ăn thua, làng đã có chợ ngày nào cũng họp, lại còn hàng chục cái cửa hàng tạp hóa, người mua thì ít người bán thì nhiều. Cả làng có đến chục nhà mở ra nghề mộc nhưng rồi cũng chỉ để làm hàng gia công cho người ta thôi thu nhập thấp lắm.

Ruộng đất chả còn bao nhiêu, người nông dân cũng chán đồng ruộng lắm rồi, ai cũng muốn bỏ ruộng mà đi đâu đó làm thôi, lớp trẻ bây giờ lớn lên là đi, học được cũng đi mà không học được cũng đi. Nhiều người đi kiếm được công ăn việc làm ổn định khấm khá còn đỡ chứ nhiều người cứ nhắm mắt nhằm bốn hướng mà tiến, cứ đi là đi chứ chả biết đi rồi thì làm gì thu nhập ra sao, nhiều khi đi làm mà ngày lễ ngày tết muốn về thăm nhà cũng chả có tiền về.

Rồi thì đi xuất khẩu lao động nước này nước kia, người có thông tin biết rõ nơi nào thật nơi nào giả có bảo hành bảo lãnh đàng hoàng chắc ăn thì vài ba năm cũng kiếm được chút ít đổi đời. Có nhiều người thì đổ âm đổ i nghe những chỗ ma mãnh lừa đảo cũng nhắm mắt thế chấp nhà cửa vay mượn cả đống tiền để đi, thời bây giờ cái dịch vụ tuyển lao động ma nó nhiều như rươi, chỗ nào cũng thấy văn bản dấu triện đỏ chói chả biết đường nào mà lần. Sang đến xứ người bị đạp đi lao động chả phải cái nghề mà người ta rêu rao ngon ngọt khi tuyển dụng, tiếng tăm thì chả biết cứ thấy nó trợn mắt lên là phải làm không làm thì no đòn, không no đòn thì cũng chết đói. Hỏi đến thằng tuyển dụng thì nó phắn không sủi tăm con mẹ nó rồi chỉ còn nước ngửa mặt kêu giời.

Đã có không ít người vay mượn, mỗi người mấy chục triệu chồng cho bọn dẻo mỏ xỏ lá nó bảo đi làm công nhân cơ khí và điện lương bảy trăm đô la một tháng, ai ngờ sang nước người nó tống hết lên rừng chặt gỗ, có thằng bị gỗ đè mất mạng, kêu ca phản đối thì lục lâm thảo khấu nó bịt mặt đánh cho bầm dập. Có đứa may mắn gặp được người cùng quê giúp lẩn trốn rồi mò được về nhà mà thân tàn ma dại, nợ vẫn hoàn nợ, nghèo lại hoàn nghèo. Vác tấm thân rách đến chỗ tuyển dụng hòng ăn vạ thì nó hút con mẹ hàng lươn bảy đời rồi. Mà lạ, những chuyện như thế nhưng chính quyền địa phương vẫn nhởn như không biết gì, kêu đến thì giở lý: Lúc tớn lên vay tiền cống cho nó để đi thì mày biết tao là thằng nào đâu, kêu gì ? Thôi xong!

Chính quyền xã, thôn rồi các tổ chức, hội này hội kia cũng đau đầu rồi thì đôn đáo, nát nước kế này kế khác kiếm nghề cho bà con làm trong lúc nông nhàn nhưng rồi ba bảy hăm mốt ngày cũng bỏ vì phần thì không quen làm quen việc, phần thì người bao tiêu sản phẩm cũng phập phù nửa vời, được vài lần đảo đi đảo lại xem chừng khó ăn là lặn mất hút luôn. Thế là chơi lại hoàn chơi, nhưng “nhàn cư vi bất thiện” chơi rông nhiều lại sinh ra đổ đốn nhiều chuyện từ bài bạc, trộm cắp vặt và lô đề, ma túy… Nhà quê bây giờ cũng chả thiếu trò gì, cũng ma túy cũng chích choác hút hít bát nháo chi khươn. Khổ thế!

 

Trịnh Đình Nghi

1 2 3 4 6
0 0
Go to Top